1.Làng cổ Giồng Nổi 2.000-2.500 năm
Kiến trúc cổ “vô giá” An Phong
2.
– Người nguyên thuỷ luôn tìm cách cải tiến công cụ lao động,
– Công cụ chủ yếu bằng đá
– Họ còn biết trồng trọt như rau, đậu, bầu bí…biết chăn nuôi chó, lợn… => Con người tự tạo ra lương thực, thức ăn cần thiết, cuộc sống ổn định hơn, ít phụ thuộc vào thiên nhiên.
– Họ sống chủ yếu ở hang động, mái đá, làm túp lều lợp cỏ cây
– Sống trong hang động, mái đá, túp lều lợp bằng lá cây.
– Cuộc sống ổn định hơn.
Họ biết làm đồ trang sức: vỏ ốc được xuyên lỗ, vòng tay, khuyên tai bằng đá, chuỗi hạt bằng đất nung. => Cuộc sống vật chất của con người ngày càng ổn định, cuộc sống tinh thần phong phú hơn, họ có nhu cầu làm đẹp.
– Họ đã có khiếu thẩm mĩ, biết vẽ trên hang đá, những hình mô tả cuộc sống tinh thần.
– Người chết được chôn cất, và chôn theo các công cụ, xã hội đã phân biệt giàu nghèo. => Họ có quan niệm tín ngưỡng.
– Cuộc sống ổn định hơn và phát triển khá cao về mọi mặt .
Câu 1. Dấu tích người tiền sử trên đất Bến Tre .
Làng cổ Giồng Nổi 2.000-2.500 năm
Giữa những năm 90 của thế kỷ XX, ông Huỳnh Văn Bê (ấp Bình Thành, xã Bình Phú, TP Bến Tre) trong khi làm vườn phát hiện được một số bàn mài đá và rìu bôn đá. Thông tin bắt đầu gây chú ý với Viện Khảo cổ học Việt Nam. Cuối năm 2003, một đoàn công tác của Viện Khảo cổ học Việt Nam và Bảo tàng tỉnh Bến Tre đến khảo sát khu vực này và đào thám sát với kết quả rất khả quan: phát hiện một số công cụ đá như rìu, bôn, đục, bàn mài; thu được 13.268 mảnh gốm các loại.
Khai quật di chỉ Giồng Nổi.
Sau đó, 2 đơn vị này quyết định khai quật di chỉ khảo cổ học Giồng Nổi. Di chỉ này có diện tích khoảng vài vạn mét vuông, dấu vết của các di vật khảo cổ học nằm chủ yếu ở khu vườn của các ông Đoàn Quang Trứ, Huỳnh Văn Bê và Võ Ngọc Rạng thuộc phần cao của giồng. Nơi có mật độ hiện vật dày đặc nhất thuộc vườn của ông Đoàn Quang Trứ với diện tích 4.000m²…
Đến nay, sau 3 lần khai quật và 2 lần đào thám sát, trên tổng diện tích 484,5m², các chuyên gia thu thập được gần 500.000 hiện vật các loại cùng hơn 250kg xương, răng động vật và ít xương người... Trong số này, hiện vật bằng gốm chiếm tỷ lệ rất lớn, hơn 99%. Hiện vật bằng gốm rất phong phú gắn bó mật thiết với cuộc sống, sinh hoạt của con người thời điểm lúc bấy giờ, như đồ dùng trong sinh hoạt, sản xuất, thờ cúng, khuôn in hoa văn bằng gốm… Đáng chú ý, trong lần khai quật thứ 2 và 3 thu nhiều hiện vật Linga và Yony bằng gốm. Số còn lại là các hiện vật bằng đá: rìu, cuốc, bàn mài, dao, cưa đá, rìu bôn, đục, hòn ghè…
Qua 2 phương pháp xác định niên đại tương đối và tuyệt đối, các chuyên gia khẳng định: niên đại của di chỉ Giồng Nổi có từ 2.000-2.500 năm trước, kề sát với giai đoạn văn hóa Óc Eo. Đặc biệt, qua 3 hố khai quật trên diện tích 437m², xuất lộ diện tích cư trú của một làng cổ. Cả 3 hố khai quật đều trúng nơi cư trú, bãi nung gốm, một số bếp lớn của cộng đồng, một số nhà lớn (qua dấu vết các lỗ cột) để ở và thờ cúng…
Các chuyên gia xác định, người Giồng Nổi có một số tín ngưỡng riêng, có thể tiếp xúc với Bà La Môn giáo qua tục thờ: đá, rùa, sinh thực khí Linga và Yony, cầu mong cho vạn vật bình yên, sinh sôi nảy nở…
Tháng 7 và 8 năm 2010, Sở VH-TT-DL Bến Tre kết hợp Viện Khảo cổ học Việt Nam tiếp tục đợt điều tra và đào thám sát khảo cổ học tại di chỉ Giồng Nổi (ấp Bình Thành, xã Bình Phú, TP Bến Tre). Kết quả khẳng định di chỉ Giồng Nổi có một tầng văn hóa rất ổn định…
Theo nhà nghiên cứu, tiến sĩ Nguyễn Kim Dung, kết quả khai quật ở Giồng Nổi có thể xem là một trong những thành tựu quan trọng nhất của ngành khảo cổ học Việt Nam những năm gần đây.
Kiến trúc cổ “vô giá” An Phong
Đặc biệt, mới đây, Viện Khảo cổ học Việt Nam lần đầu tiên phát hiện di tích kiến trúc cổ tại ấp An Phong, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, gây sự chú ý đặc biệt với nhiều người, nhất là giới nghiên cứu, khảo cổ học. “Với số lượng các vết tích kiến trúc tìm thấy trong các hố thám sát và còn nhìn thấy trên mặt đất tại khu vực đình An Thạnh và chùa Trà Nồng thuộc xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, có thể kết luận nơi đây tồn tại một khu di tích kiến trúc lớn”, tiến sĩ Hà Văn Cẩn, Viện Khảo cổ học Việt Nam khẳng định.
Câu 2.Đời sớng vật chất tinh thần của người tiền sử tại Bến Tre .
– Người nguyên thuỷ luôn tìm cách cải tiến công cụ lao động,
– Công cụ chủ yếu bằng đá
– Họ còn biết trồng trọt như rau, đậu, bầu bí…biết chăn nuôi chó, lợn… => Con người tự tạo ra lương thực, thức ăn cần thiết, cuộc sống ổn định hơn, ít phụ thuộc vào thiên nhiên.
– Họ sống chủ yếu ở hang động, mái đá, làm túp lều lợp cỏ cây
– Sống trong hang động, mái đá, túp lều lợp bằng lá cây.
– Cuộc sống ổn định hơn.
Họ biết làm đồ trang sức: vỏ ốc được xuyên lỗ, vòng tay, khuyên tai bằng đá, chuỗi hạt bằng đất nung. => Cuộc sống vật chất của con người ngày càng ổn định, cuộc sống tinh thần phong phú hơn, họ có nhu cầu làm đẹp.
– Họ đã có khiếu thẩm mĩ, biết vẽ trên hang đá, những hình mô tả cuộc sống tinh thần.
– Người chết được chôn cất, và chôn theo các công cụ, xã hội đã phân biệt giàu nghèo. => Họ có quan niệm tín ngưỡng.
– Cuộc sống ổn định hơn và phát triển khá cao về mọi mặt .
Lịch sử là môn khoa học nghiên cứu về quá khứ, đặc biệt là những sự kiện liên quan đến con người. Đây là thuật ngữ chung có liên quan đến các sự kiện trong quá khứ cũng như những ghi nhớ, phát hiện, thu thập, tổ chức, trình bày, giải thích và thông tin về những sự kiện này. Những học giả viết về lịch sử được gọi là nhà sử học. Các sự kiện xảy ra trước khi được ghi chép lại được coi là thời tiền sử.
Nguồn : Wikipedia - Bách khoa toàn thưLớp 6 - Là năm đầu tiên của cấp trung học cơ sở. Được sống lại những khỉ niệm như ngày nào còn lần đầu đến lớp 1, được quen bạn mới, ngôi trường mới, một tương lai mới!
Nguồn : ADMIN :))Copyright © 2021 HOCTAP247